Một vật dụng thiết yếu
Kính mắt là một thiết bị đơn giản nhất giúp tăng thị lực đã đi vào đời sống con người từ ngàn xưa. Người Ai cập cổ đại đã sử dụng tinh thể mài nhẵn của thạch anh để phục vụ mục đích này. Một dụng cụ gần giống như kính đã được tìm thấy trong mộ của Hoàng đế Ai cập Tu-tan-ma-môn. Tuy nhiên điều này cũng không có nghĩa là tổ tiên của chúng ta thừa nhận việc đeo kính là hợp lý. Trong một thời gian dài, kính mắt được coi là sản phẩm của thế giới ma quỷ: Ở châu Âu thời kỳ Trung cổ, kính và kính một mắt được gọi là “những con quỷ hút máu rút mắt ra”. Vậy nên người ta hay miêu tả những mụ phù thuỷ và quỷ dữ với cặp kính tròn.
Những cuộc tranh cãi về vấn đề có cần đeo kính hay không diễn ra cho đến tận đầu thế kỷ 20. Ngày nay kính đã trở thành vật dụng không thể thiếu trong cuộc sống. Có cả một nền công nghiệp hùng hậu sản xuất những đôi kính trang nhã, đẹp, tiện lợi cho các mục đích sử dụng khác nhau và để thế chỗ cho kính gọng còn xuất hiện cả các loại kính tiếp xúc mềm không chỉ điều chỉnh tật khúc xạ mà còn có thể làm thay đổi cả màu mắt.
Tuy nhiên, dù các thiết bị quang học có những tính năng tuyệt vời, nhiều người không muốn đeo bất kỳ loại kính nào. Mặt khác, nhu cầu đeo kính ngày càng tăng: trong những điều kiện mắt làm việc căng thẳng hiện nay, như một tai hoạ, con người mất đi khả năng trời phú để nhìn rõ thế giới xung quanh. Đầu tiên điều này biểu hiện ở những rối loạn khúc xạ làm con mắt mất khả năng hội tụ những tia sáng trên võng mạc. Đó là những tật khúc xạ như cận thị, viễn thị và loạn thị. Và những bệnh mắt khác phát sinh, tất nhiên là không thể chữa được bằng cách đeo các loại kính, cho dù là kính tốt nhất.
Máy chụp ảnh của tạo hoá
Tạo hoá cho chúng ta “một thiết bị” để nhìn tuyệt vời là đôi mắt. Để đánh giá hết sự hoàn hảo của chúng, cần có những hiểu biết sơ bộ về cấu tạo của mắt. Con mắt có hình cầu với 3 lớp vỏ bọc là lớp xơ, mạch mạc (màng bồ đào), võng mạc và các thành phần bên trong là thể thủy tinh và dịch kính. Ở lớp bọc ngoài có giác mạc, hơi lồi lên, giống như “một cửa sổ” trong suốt nhìn ra thế giới xung quanh, không những cho tia sáng đi qua, mà còn làm chúng đổi hướng hay còn gọi là hiện tượng khúc xạ. Phần còn lại của lớp bên ngoài là củng mạc, thường gọi là lòng trắng, vì nó giống như lòng trắng trứng. Võng mạc là lớp trong cùng, cảm thụ được ánh sáng nhờ thụ cảm thể là những tế bào nón. Ở người trưởng thành võng mạc có khoảng 6 đến 7 triệu tế bào này.
Màng bồ đào có nhiều mạch cấp máu cùng các chất dinh dưỡng và ô-xy cho mắt. Lớp vỏ này có những phần khác nhau và phần ở phía trước là mống mắt có chứa sắc tố, xác định mầu mắt của chúng ta. Ở giữa mống mắt có một lỗ tròn, gọi là đồng tử hay còn gọi là con ngươi, cho ánh sáng đi qua vào trong mắt. Kích cỡ của đồng tử phụ thuộc vào độ sáng tối: ra sáng con ngươi co lại, trong bóng tối nó giãn ra.
Thể mi là một bộ phận quan trọng khác của màng bồ đào. Nó tiết ra một dịch đặc biệt vào trong mắt để làm sạch và nuôi dưỡng thể thủy tinh, dịch kính và giác mạc. Dịch này được sản sinh liên tục và chảy qua góc tiền phòng - khoảng không giữa giác mạc và mống mắt - vào một hệ thống dẫn lưu đặc biệt của mắt. Trong thể mi có cơ thể mi giúp điều tiết, giống như ống kính máy ảnh, điều chỉnh để mắt nhìn rõ cả khi vật ở gần và xa.
Từ cơ thể mi đến thể thủy tinh có những dây chằng, nhờ những dây này mà thể thủy tinh, với cấu trúc có hình dạng của thấu kính lồi hai mặt, có thể thay đổi độ cong của mình. Những cơ vận nhãn có vai trò quan trọng, đảm bảo cho con người nhìn thấy mọi vật ở các hướng khác nhau. Hắc mạc là phần sau của màng bồ đào, tiếp xúc trực tiếp với võng mạc và cung cấp dinh dưỡng cho võng mạc.
Lớp vỏ trong cùng là võng mạc, đảm bảo thị lực nhờ các tế bào cảm thụ (tế bào hình nón và tế bào hình que). Phần trung tâm của võng mạc, gọi là hoàng điểm có nhiều tế bào hình nón, cho phép chúng ta nhìn thấy màu sắc của thế giới bên ngoài. Vùng chu biên của võng mạc có các tế bào hình que đảm bảo cho mắt phân biệt đen - trắng, giúp ta nhìn thấy vào lúc sẩm tối. Trong võng mạc của người trưởng thành có khoảng 110-125 triệu tế bào que này. Nếu những tế bào này bị tổn hại thì người ta bị bệnh gọi là “quáng gà”, không nhìn được lúc sẩm tối, khi gà lên chuồng. Những tia ánh sáng hội tụ trên võng mạc. Ở đây chúng được chuyển thành những xung động thần kinh và qua thần kinh thị giác truyền lên đại não, nơi diễn ra phân tích nhận thức thị giác ở mức cao.
Võng mạc như một phim chụp ảnh
Mắt con người thường được so sánh như một máy chụp ảnh hoàn hảo với con ngươi, giác mạc và thể thủy tinh là ống kính phức tạp, chuyển qua và làm khúc xạ tia sáng, còn vai trò của phim chụp do võng mạc đảm nhiệm. Để cho hình ảnh từ “máy chụp ảnh” này chụp được đúng và rõ nét, cần phải cho hình ảnh đó rơi đúng vùng hoàng điểm của võng mạc. Nếu như người bị rối loạn thị lực thì sẽ không có “bức ảnh đẹp”. Những thợ chụp ảnh nói bức ảnh đó là “được chụp không đúng tiêu cự”. Điều gì xảy ra khi đó ở cơ quan thị giác ? Đó là rối loạn chức năng, phụ thuộc vào bệnh và mức độ nặng của nó.
CẬN THỊ là tật khúc xạ khi mà những tia sáng hội tụ không trên võng mạc mà ở trước võng mạc, người bệnh nhìn những vật xa không rõ, lờ mờ. Hiện tượng này xảy ra có thể do hai nguyên nhân: hoặc là giác mạc và thể thủy tinh làm khúc xạ tia sáng quá mạnh, hoặc là độ dài trục nhãn cầu tăng lên quá bình thường. Nếu như trục nhãn cầu trong qua trình phát triển dài ra quá mức, thì hình ảnh không đi đến võng mạc và hội tụ lại trước võng mạc. Nếu trục nhãn cầu của một người lớn bình thường không quá 23-24 mm, thì khi cận chiều dài của nó có thể lên tới 30 mm và lớn hơn. Trục nhãn cầu dài ra 1mm thì độ cận tăng là 3 đi-ốp.
Cận thị là một tật khúc xạ phổ biến nhất. Trên thế giới có hàng tỷ người bị cận thị. Chỉ riêng ở Trung Quốc con số này đã là hơn 300.000 người. Người ta thấy rằng nguyên nhân chính của bệnh này là do mắt phải nhìn mọi vật ở khoảng cách gần nhiều quá mức, đầu tiên phải kể đến việc sử dụng máy vi tính, xem ti vi, đọc sách báo, những hoạt động khác đòi hỏi phải ngồi một chỗ và hạn chế vận động. Sự làm việc quá mức này trái ngược với hệ di truyền sinh học của con người, mà ở đó cơ quan thị giác từ bao thế kỷ trước được “lập trình” 80% để nhìn vật ở xa. Một trong những nguyên nhân cận thị khác được kể đến là yếu cơ điều tiết, không đủ khả năng “điều chỉnh” thể thủy tinh khi nhìn ở các khoảng cách khác nhau; nguyên nhân nữa là rối loạn trao đổi chất trong mắt và yếu tố bẩm sinh.
Để nhìn rõ, những người cận phải đeo kính phân kỳ. Tuy nhiên đeo kính không phải lúc nào cũng cứu vãn được tình thế - trong nhiều trường hợp những thiết bị quang học không làm dừng bệnh cận thị, chúng chỉ điều chỉnh khúc xạ ánh sáng. Khi bệnh tiếp tục tăng thì trục nhãn cầu càng dài hơn, cơ điều tiết yếu đi, người bệnh buộc phải đổi số kính lên cao hơn. Thành nhãn cầu giãn ra dẫn đến rối loạn dinh dưỡng võng mạc. Những phần thiếu máu cung cấp bình thường, giống như chiếc khăn voan mỏng, có thể “rách toạc ra”. Khi đó trên võng mạc xuất hiện những lỗ thủng nhỏ và hậu quả là bong võng mạc. Đây là biến chứng nặng nhất của cận thị tiệm tiến, nếu không tiến hành phấu thuật kịp thời thị lực có thể giảm nhiều đến mù hoàn toàn.
Viễn thị
Trái ngược với cận thị, đây là tật khúc xạ, khi tia sáng hội tụ ở sau võng mạc. Thứ nhất, viễn thị phát sinh khi mà giác mạc và thể thủy tinh làm khúc xạ tia sáng yếu; thứ hai là do trục nhãn cầu ngắn hơn bình thường. Khi bị viễn thị, người bệnh bị rối loạn thị lực cả nhìn gần và xa. Khi còn trẻ, viễn thị độ thấp không gây giảm thị lực nhờ vào khả năng điều tiết của mắt. Nhưng nếu độ viễn cao, cơ điều tiết sẽ yếu. Khi đó, người bệnh cần đeo kính cộng có thấu kính lồi. Thực tế, kính không phải lúc nào cũng có tác dụng. Người bị viễn thị thường phàn nàn về sự mỏi mắt nhanh chóng, đau đầu và chóng mặt. Thị lực có thể bị giảm sút, trẻ có thể bị lác.
Loạn thị
Đây cũng là tật khúc xạ khả phổ biến, khi mà giác mạc hoặc thể thủy tinh không tròn ở các phía như bình thường. Những tia ánh sáng qua mắt bị tật khúc xạ hội tụ một phần trên võng mạc, một phần trước và sau võng mạc. Kết quả là hình ảnh trên võng mạc có thể bị méo mó và người bệnh nhìn các vật không rõ, lờ mờ. Khi người bệnh mắc loạn thị, ảnh vật thường sai lệch theo trục ngang và dọc, vậy nên để chữa trị rối loạn khúc xạ này người bệnh cần đeo kính hình trụ để tạo nên sự đối lập trực tiếp với độ sai lệch.
Viễn thị
Hiện tượng giảm cũng xảy ra ở người có tuổi, khi mà thể thủy tinh dần dần trở nên ít đàn hồi hơn, các cơ thể mi với chức năng điều chỉnh độ cong của thể thuỷ tinh trở nên yếu hơn. Quá trình lão hoá thị lực tự nhiên đó gọi là lão thị. Những dấu hiệu của nó rất quen thuộc với nhiều người: theo năm tháng người ta già đi, trước kia con người quen nhìn không cần kính, giờ đây nhìn chữ bắt đầu thấy nhòe đi trên giấy, xâu chỉ không vào lỗ kim; để phân biệt rõ ràng mọi vật nhỏ, chúng ta phải để những vật đó xa tầm mắt. Để chữa lão thị, người ta đeo hai loại kính: một để nhìn những vật ở xa, một để nhìn những vật ở gần.
Chỉnh hình đôi mắt
Để đánh giá được sự phát triển vượt bậc vào những thập kỷ cuối trong lĩnh vực nhãn khoa và trong vi phẫu mắt nói riêng, có thể tìm đến những sự kiện cụ thể. Khi nói về những ca phẫu thuật độc đáo do các chuyên gia của Tổ hợp thực hiện, ông tổng giám đốc K.P.Tac-tri-đi đã đưa ra những số liệu chứng minh hồn độ chuẩn xác vàng của những nhà phẫu thuật nhãn khoa. Trên thực tế, những phấu thuật trên phần quan trọng nhất của mắt - võng mạc và dịch kính - (những phẫu thuật này gọi là phẫu thuật dịch kính-võng mạc) được thực hiện qua hai đường rạch rất nhỏ từ 1 đến 1,5 mm. Một hệ thống thiết bị quang học đặc biệt giúp các phẫu thuật viên nhìn thấy hết những gì trong lòng con mắt, cho phép họ làm việc trên một khoảng nhỏ đến không tưởng của mắt với thể tích chỉ có là 4 ml. Nhờ vậy mà việc chỉnh sửa lại con mắt từ bên trong trở nên khả thi, không cần rạch rộng thành nhãn cầu. Đó là các phẫu thuật bong võng mạc nặng, viêm nhiễm chấn thương, hậu quả của bệnh tiểu đường và các bệnh lý nặng khác mà trước đó không lâu những người bị bệnh này phải cam chịu mù loà.
Những công nghệ phẫu thuật nào hiện nay được sử dụng nhiều nhất ?
Trước hết là phẫu thuật khúc xạ, một triển vọng phát triển trong vi phẫu mắt. Chúng ta đã biết, việc ứng dụng công nghệ rạch giác mạc hình nan hoa của S.N. Fyôđôrôv để thay đổi lực khúc xạ của nó đã bắt đầu một kỷ nguyên mới trong điều chỉnh tật khúc xạ bằng phẫu thuật. Sau đó, người ta đưa vào sử dụng phương pháp nhiệt đông giác mạc bằng la-de và tia hồng ngoại, bào mòn giác mạc bằng la-de và các phương pháp khác.
Nhằm ngăn chặn sự phát triển bệnh lý trong bệnh cận thị, người ta sử dụng phương pháp tạo hình củng mạc và ghép cô-la-gien, khi đó nhãn cầu được gia cố bằng một “vành đai” bằng chất liệu sinh học hoặc cô-la-gen. Ngày nay, những phẫu thuật chữa cận thị, viễn thị và loạn thị rất phổ biến không chỉ ở Tổ hợp và các chi nhánh khác mà còn ở nhiều bệnh viện khác trên toàn Nga.
Cuối cùng phải kể đến việc áp dụng la-de eximer trong phẫu thuật khúc xạ. Phương pháp này là lấy đi (nói đúng hơn là làm bay hơi) từng lớp rất mỏng trên bề mặt giác mạc. Phẫu thuật này gọi là bào mòn giác mạc bằng la-de excimer và được thực hiện trên cở sở tính toán chuẩn xác bằng máy tính cho từng người bệnh. Khi đánh giá mức độ cận hoặc viễn, bác sỹ tính toán được thời gian và năng lượng la-de cần thiết để thay đổi độ cong của giác mạc: nếu cận thì cần làm giảm lực khúc xạ bằng cách làm giác mạc phẳng hơn và nếu viễn thì ngược lại: cần làm giác mạc lồi hơn để làm tăng mức độ khúc xạ ánh sáng đi qua giác mạc. Để điều chỉnh loạn thị, cần loại bỏ những sai lệch độ cong giác mạc cũng bằng phương pháp này.
Hiện nay, những phương pháp phẫu thuật khúc xạ phổ biến nhất là LASIK và LASEK (viết tắt từ tên “bào mòn giác mạc bằng la-de”). Trong những ca mổ đó, bác sĩ phẫu thuật làm việc trên kính hiển vi cùng với một bác sĩ thao tác khác ngồi trên máy vi tính. Trên máy vi tính hiện hết tất cả diễn biến quá trình phẫu thuật. Nếu chúng ta theo dõi ca phẫu thuật này, thì chúng ta sẽ thấy, đầu tiên là mắt bệnh nhân được làm xử lý vô trùng. Sau đó người ta tra thuốc giảm đau vào mắt. Tiếp đến bác sỹ sẽ đặt dụng cụ vành mi và dùng một dụng cụ đặc biệt để cố định mắt và làm làm tăng nhãn áp tạm thời. Nhãn áp cao làm cho phần bề mặt cần phẫu thuật phẳng hơn và giúp bác sỹ tạo được một vạt “siêu mỏng” bằng phẳng trên giác mạc. Sau khi vạt giác mạc được lật lên trên, lớp sâu hơn của giác mạc được bộc lộ. Khi đó bác sỹ cho bật la-de. Một tia sáng chói, nhỏ đi thẳng vào chính giữa mắt của người bệnh. Chỉ sau khoảng 30 giây, phần mô giác mạc cần lấy đi đã được làm bốc hơi và bác sỹ phẫu thuật đạy ngay vạt giác mạc lại và nó dễ dàng bám dính trở lại vị trí cũ. Bác sỹ tháo vành mi và thực hiện thao tác tương tự trên mắt thứ hai. Kể cả các công tác chuẩn bị, phẫu thuật trên hai mắt mất khoảng 10 phút. La-de excimer có hiệu quả nhanh, chính xác với cơ chế tác động tinh vi ở mức phân tử và không làm tổn hại các mô xung quanh.
La-de excimer đã được các kỹ sư Nga tìm ra từ thời Xô viết nhưng nó chỉ được sử dụng vào nền y học nước nhà vào cuối những năm 80 thế kỷ trước. Ngày nay những phẫu thuật như vậy trở nên rất phổ biến, chỉ riêng ở Tổ hợp “Vi phẫu mắt” hàng năm mổ đến gần 4.000 ca.
Với bề dày kinh nghiệm của mình, các chuyên gia từ Tổ hợp sẽ đem đến cho các bệnh nhân Việt Nam một cơ hội mới. Đó là được điều trị bệnh với chất lượng cao, đẳng cấp quốc tế nhưng chỉ với chi phí tương tự với mặt bằng hiện nay ở Việt Nam.